TỔNG QUAN ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY (Phần 2) 1

Tiếp theo phần trước, ở phần này chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về cấu thành và chi tiết các mô hình điện toán đám mây.

Cloud computing đang thay đổi sự truyền tải dịch vụ IT thế nào?

Một sự biến chuyển lớn đang diễn ra trong toàn cộng đồng IT trong vài năm gần đây. Gợn sóng đầu tiên của cơn thủy triều mới mẻ này trong mảng tiêu dùng là những sự ra đời của những thiết bị mới. Lúc đầu là những chiếc điện thoại thông minh, tiếp đến là máy tính bảng. Người tiêu dùng nội địa bắt đầu đổ xô vào các thiết bị mới mẻ, hấp dẫn, dễ sử dụng với đầy đủ các tính năng thông minh bên cạnh thời lượng pin tuyệt vời. Nhìn chung, các thiết bị này thu hút hơn hẳn so với các thiết bị màu xám, khóa cứng mà các bộ phận IT đặt trên bàn làm việc của nhân viên.

Dần dần các thiết bị hiện đại này xuất hiện ở công sở. Đầu tiên, các giám đốc điều hành muốn sở hữu các thiết bị thời thượng kia; tuy nhiên, hệ thống hạ tầng IT lúc bây giờ không đủ khả năng để quản lí cũng như hỗ trợ điều này. Sau đó, người tiêu dùng cũng muốn chúng. Và cũng trong lúc đó, hạ tầng IT lại trở nên trì trệ và kém linh hoạt. Dần dà người tiêu dùng có xu hướng tự bỏ tiền túi của mình để mua các thiết bị phù hợp với nhu cầu cá nhân. Họ không cần phải chờ hàng tháng trời để máy tính cá nhân của mình bị công ty mã hóa; họ còn có nhiều việc cần làm. Họ cũng không cần các thiết bị hỗ trợ công việc với thời lượng pin chỉ vỏn vẹn ba giờ đồng hồ; họ cần làm việc trong suốt chuyến bay tám tiếng xuyên Đại Tây Dương. Nhu cầu kinh doanh cần được đáp ứng cho dù bộ phận IT kịch liệt phản đối. Đây chính là sự tiêu dùng hóa công nghệ thông tin.

Một khi cái đê đã vỡ thì nước không thể chảy ngược về. Người tiêu dùng nhận ra rằng họ có thể tìm thấy các ứng dụng cho thiết bị của mình lẫn giải pháp kinh doanh trực tuyến từ các nguồn độc lập với bộ phận IT trong công ty. Phần lớn các ứng dụng kinh doanh mới có giao diện web và các doanh nghiệp có thể tự tạo một ứng dụng kinh doanh từ nguồn bên ngoài rồi đặt vào máy chủ của công ty. Người sử dụng có được chính xác những thứ họ mong muốn.

Đối mặt với sự tăng trưởng to lớn, áp lực thời gian lẫn việc phải điều chỉnh để giữ giá cả ở mức thấp đã làm cho các máy chủ truyền thống tùy biến ra một cách cung cấp dịch vụ IT mới. Cloud computing là mô hình cung cấp dịch vụ IT tân tiến nhất cho những giải pháp kinh doanh dựa trên nền tảng IT.

Cloud được tạo thành như thế nào?

Cloud computing có khá nhiều định nghĩa. Có nhiều loại khác nhau và các mô hình cung cấp của nó cũng không giống nhau. Chính vì những hiểu nhầm mà những người làm kinh doanh và quảng cáo tạo ra đã làm cho rất nhiều người không thật sự hiểu Cloud computing là gì.

Cloud computing không chỉ đơn thuần là máy chủ ảo. Sự thật thì máy chủ ảo cũng không phải là bộ phận cấu thành thiết yếu của một cloud. Tuy nhiên nó chính là bộ phận chủ chốt để một vài loại Cloud computing có thể hoạt động.

Có thể nói một trong những định nghĩa chính xác và liên quan nhất về điện toán đám mây đã được xuất bản bởi National Institude of Standards and Technology (NIST). Tài liệu tổng quát này (http://csrc.nist.gov/publications/nistpubs/800-145/SP800-145.pdf) đã giải thích rõ ràng về ý nghĩa của cloud. Cloud là một tập hợp các nguồn tính toán đã được chia sẻ và có thể dễ dàng truy cập và sử dụng mọi lúc mọi nơi. Một đám mây sẽ mang những đặc điểm như sau:

  • Tự phục vụ: Sử dụng giao diện đơn giản, khách hàng (hoặc nhà kinh doanh) có thể đăng kí dịch vụ đám máy và triển khai các tài nguyên thông tin cần sử dụng. Lợi ích rõ nhất của việc tự cung cấp dịch vụ này là họ có thể nhanh chóng tự cung cấp nguồn tài nguyên mà không cần nhờ tới bộ phận IT bận rộn, nhờ đó mà doanh nghiệp có thể nắm bắt cơ hội hoặc ứng biến với các thử thách tốt hơn.

    Việc này không có nghĩa là ta phủ nhận tầm quan trọng của bộ phận IT. Chức năng của bộ phận IT đã chuyển từ triển khai dịch vụ thành triển server, network, storage tạo nên cloud, lẫn việc quản lí hệ thống và chính sách để đảm bảo cho các dịch vụ mà IT cung cấp luôn sẵn sàng, bảo mật và phù hợp với tiêu chuẩn của công ty.

  • Mạng lưới truy cập rộng lớn: tính tiêu dùng hóa của IT nghĩa là người tiêu dùng được sử dụng các loại thiết bị và công nghệ chưa từng thấy để truy cập vào các dịch vụ kinh doanh. Một đám mây phải cho phép người dùng truy cập vào thiết bị một cách an toàn và đáng tin cậy từ nhiều mạng lưới khác nhau. Một trong những cách tốt nhất để làm cho các ứng dụng đến tay người dùng trên một diện rộng các thiết bị là phải tăng cường sức mạnh của Web và công nghệ như là HTML5.

    Nếu những người không phải là các chuyên gia IT triển khai dịch vụ riêng của mình thì giao diện và hệ thống xử lí phải được tự động hóa (Nếu bạn đã từng nói chuyện với người dùng không chuyên về cấp hình mạng thì bạn sẽ hiểu cuộc nói chuyện của bạn sẽ kết thúc như thế nào). Mỗi một khách hàng sử dụng cloud đều phải được đảm bảo tách bạch và bảo mật với các khác hàng trong hệ thống.

  • Tài nguyên được chia sẻ: Hầu hết nhà nào cũng có điện để thắp đèn, xem TV và nấu nướng. Tuy nhiên trạm điện thì không phải đặt ở trong sân nhà của họ. Điều này cũng giống như trong kinh doanh. Liệu tất cả các bộ phận trong một trường đại học đều cần phải có phòng máy và quản trị viên? Liệu tất cả các doanh nghiệp nhỏ đều phải có hệ thống máy chủ để gửi mail và chia sẻ tập tin? Các tổ chức IT tình cờ này có thể sử dụng nhiều nguồn để tự cung cấp dịch vụ cho mình một cách thành thạo mà không cần tốn nhiều chi phí.
  • Tính linh hoạt nhanh: các máy chủ triển khai hoạch định kinh doanh truyền thống phải lên kế hoạch sử dụng tối đa hiệu suất. Một người kinh doanh bình thường phải triển khai càng nhiều máy càng tốt để đáp ứng với khối lượng công việc khổng lồ vào những tháng mười một và mười hai bận rộn cuối năm. Nhưng trong 10 tháng trước đó thì hầu hết hiệu năng của máy server không được sử dụng, làm lãng phí điện và không gian. Một cloud phải giải quyết được vấn đề này bằng việc mở khả năng cung cấp dịch vụ.

Với khía cạnh công nghệ, việc này có nghĩa là phải tập trung hóa mật độ server đã được thiết kế và quản lí. Tỉ lệ server và quản trị viên tăng lên. Hệ thống quản lí tự động và quản trị chất lượng trở nên rất quan trọng.

  • Ước lượng dịch vụ: Một nhà cung cấp dịch vụ cloud computing phải ước tính chi phí các nguồn đầu vào của khách hàng. Một vài nhà cung cấp dịch vụ sử dụng dữ liệu này để xuất hóa đơn cho khách hàng. Ví dụ: một nhà cung cấp dịch vụ CRM tính toán chi phí với khách hàng để kiếm lợi nhuận. Một cloud trong doanh nghiệp có thể được trả thông qua bộ phận IT hoặc chi nhánh IT để bù đắp cho các chi phí vận hành và dịch vụ đám mây.

    Không phải doanh nghiệp nào cũng chịu chi trả cho khách hàng và người sử dụng. Tuy nhiên tính toán dịch vụ có thể được dùng để hiển thị những giá trị mà bộ phận IT mang lại cho công việc kinh doanh.

Bây giờ, khi đã hiểu được đám mây là gì, bạn cần phải phân biệt được các dạng của nó.

Những mô hình dịch vụ (service models) của Cloud computing.

Có ba loại mô hình cloud được chấp nhận rộng rãi. Mỗi phục vụ một mục đích khác nhau. Một doanh nghiệp có thể chọn để sử dụng chỉ là một, hai hoặc thậm chí tất cả ba loại mây đồng thời nếu như có nhu cầu

AnVoNa_Cloud-Models

SOFTWARE AS A SERVICE (SAAS)

Mô hình này tồn tại trước khi bất cứ ai bắt đầu nói về Cloud Computing. SaaS là một ứng dụng trực tuyến mà bạn có thể sử dụng thay vì bạn cài đặt trên một server hoặc máy PC. Một trong những ví dụ cổ nhất là webmail. Những người đã sử dụng Hotmail, Yahoo! Mail, và những dịch vụ khác từ những thập niên 1990. Nhiều người sử dụng của các dịch vụ này không cần cài đặt một ứng dụng email thay vào đó, họ duyệt đến trang web của nhà cung cấp dịch vụ, đăng nhập. Bạn bè, gia đình và đồng nghiệp của họ cũng làm như thế

Kể từ đó sự đa dạng của các ứng dụng cá nhân và doanh nghiệp đã bùng nổ. Chứ không cần thiết phải triển khai máy chủ Exchange và một trang trại SharePoint trong một doanh nghiệp nhỏ hoặc một văn phòng chi nhánh (đòi hỏi các server và thời gian), bạn có thể đăng ký để Microsoft Office 365 và triển khai các hộp thư và các trang web SharePoint trong vài giờ, người dùng có thể truy cập vào những dịch vụ từ bất cứ nơi nào trên hành tinh nếu họ có Internet.

Các ví dụ khác như là Salesforce CRM, Microsoft Dynamics CRM, Microsoft Windows Intune và Google Apps.

Sức mạnh của SaaS là rằng bất kỳ người dùng nào cũng có thể đăng ký vào một dịch vụ một cách nhanh chóng như họ có thể thanh toán bằng thẻ tín dụng của họ. Cộng thêm, công ty không cần triển khai hoặc quản lý cơ sở hạ tầng ứng dụng. Những kinh nghiệm không phải là những gì khác nhau từ mua một ứng dụng cho điện thoại thông minh một: bạn tìm thấy một cái gì đó đáp ứng nhu cầu của bạn, bạn trả tiền cho nó và bạn bắt đầu sử dụng nó — với có lẽ một số cấu hình cục bộ trên máy PC đã tối đa hóa dịch vụ. Những bất lợi là các hệ thống này là không phải luôn luôn linh hoạt và có thể không tích hợp tốt với các ứng dụng kinh doanh, tổ chức của bạn yêu cầu. SaaS là một dịch vụ tổng quát nhằm mục đích đáp ứng các nhu cầu của đa số của thị trường. Phần còn lại của thị trường phải tìm một cái gì đó mà họ có thể tùy chỉnh cho các nhu cầu riêng của họ.

PLATFORM AS A SERVICE (PAAS)

Khi bạn hỏi bất kỳ software developer nào về việc phàn nàn trong triển khai giải pháp cho họ là gì, và có một cơ hội khá tốt mà họ sẽ bắt đầu nói chuyện về quản trị viên máy chủ đã mất quá lâu để triển khai server và không bao giờ cung cấp chính xác là những gì các developer cần.

PaaS nhằm giải quyết những vấn đề này. Đó là một môi trường dịch vụ mà nhà cung cấp quản lý cho phép software developer tổ chức và thực hiện các phần mềm của họ mà không có phàn nàn về các yếu tố kỹ thuật, việc triển khai hoặc cấu hình server. Một ví dụ về một PaaS là Microsoft Windows Azure. Các developer có thể tạo các ứng dụng trong Visual Studio và tải chúng trực tiếp lên PaaS của Microsoft, mà dữ liệu có mặt ở nhiều data center trên toàn cầu. Các developer có thể sử dụng sức mạnh tính toán, một dịch vụ SQL có sẵn và khả năng mở rộng, ứng dụng mẫu và một lượng lớn không gian lưu trữ.

Một ví dụ được sử dụng rộng rãi hơn là Facebook. Nhiều người có xu hướng xây dựng trang trại ảo hoặc tìm kiếm các manh mối để giải quyết các vụ giết người từ văn phòng của họ bằng cách sử dụng phần mềm thực hiện trên Facebook của họ. Các developer với những trò chơi tận dụng lợi thế của nền tảng mạng xã hội mở rộng này, và họ có thể nhanh chóng tiếp cận một đối tượng lớn người dùng mà không cần phải đầu tư một lượng lớn thời gian và tiền bạc để xây dựng data center của mình trên khắp thế giới.

Sức mạnh của giải pháp này là bạn có thể triển khai một ứng dụng mới trên một nền tảng có khả năng mở rộng để tiếp cận một đối tượng rất lớn trong một vài phút. Công ty hosting, chẳng hạn như Microsoft, chịu trách nhiệm quản lý cơ sở hạ tầng PaaS. Điều này giúp các developer tự do để tập trung vào ứng dụng của họ mà không có sự phiền nhiễu của server, mạng, và các yếu tố khác. Điểm yếu là rằng bạn không thể tuỳ chỉnh cơ sở hạ tầng cơ bản. Ví dụ, nếu bạn yêu cầu chức năng web server mới hoặc third-party SQL Server add-ons, điều này có thể không là mô hình Cloud computing tốt nhất để sử dụng.

INFRASTRUCTURE AS A SERVICE (IAAS)

Vì nó được dựa trên một công nghệ mà hầu hết mọi chuyên gia IT đã biết, IaaS là một mô hình Cloud computing đã quen thuộc với họ. IaaS cho phép người tiêu dùng tự triển khai các máy ảo với cấu hình sẵn hệ điều hành thông qua một Self-service portal. Network và Storage được dễ dàng và nhanh chóng cấu hình mà không cần phải tương tác với người quản trị mạng.

Ảo hóa, chẳng hạn như Microsoft Hyper-V, là công nghệ cơ bản làm cho IaaS khả thi. Một cloud IaaS có nhiều hơn không chỉ là ảo hóa máy chủ. Cấu hình mạng phải được tự động, dịch vụ phải được đàn hồi và kiểm định, và cloud nên có khả năng multitenant. Điều này đòi hỏi lớp quản lý và tự động hóa cao hơn so với ảo hóa truyền thống.

Kết quả của các giải pháp cho phép người tiêu dùng của các dịch vụ nhanh chóng triển khai các bộ dịch vụ đã cấu hình trước của máy ảo mà không rối rắm. Các software developer hoặc ban quản trị có thể tùy chỉnh máy ảo để phù hợp với nhu cầu của các ứng dụng sẽ được họ cài đặt. Môi trường làm việc là quen thuộc và có thể dễ dàng tích hợp với hầu như tất cả các công nghệ trong một tổ chức. Những bất lợi cho một số là có máy ảo để triển khai và hệ điều hành để tạo ra và duy trì.

Những mô hình triển khai (deployment models) của Cloud computing.

Bây giờ bạn đã biết được những đặc điểm nổi bật của một cloud và những loại hình dịch vụ khác nhau của nó. Mỗi một mô hình dịch vụ có thể hiện hữu ở nhiều nơi và thuộc về yêu cầu triển khai cloud computing của doanh nghiệp.

Private Cloud

Private Cloud hoàn toàn thuộc về nhu cầu của một cá nhân doanh nghiệp nào đó. Nó có thể là trong hạ tầng cơ sở (on-premises) hoặc ngoài hạ tầng cơ sở (off-premises). Private Cloud chỉ thuộc về một doanh nghiệp sẽ thường trú trong phòng máy của chủ sở hữu hoặc data center và được quản lí bởi đội ngũ IT của doanh nghiệp. Với quyền sở hữu duy nhất của đám mây trong hạ tầng cơ sở, doanh nghiệp được toàn quyền điều khiển data center, hệ thống hạ tầng và network. Về phía Private Cloud ngoài hạ tầng cơ sở, nó thừa hưởng cơ sở vật chất có sẵn và kiến thức chuyên môn từ các đơn vị outsourcing như là chức năng trung tâm dữ liệu máy chủ. Private Cloud ngoài cơ sở hạ tầng này khá lí tưởng cho các doanh nghiệp không muốn hoặc không có đủ khả năng xây dựng phòng máy hoặc trung tâm dữ liệu riêng.

Lợi ích của Private Cloud là doanh nghiệp có thể tự thiết kế nó rồi tùy biến theo thời gian cho phù hợp với mình. Họ có thể kiểm soát được chất lượng dịch vụ đã cung cấp. Với hệ thống chuẩn được lắp đặt, hoạt động theo nguyên tắc, đảm bảo tính bảo mật thì nhiệm vụ quản trị của IT sẽ được duy trì. Mặt bất lợi của coud này là mô hình triển khai của nó cần sự đầu tư nhiều về chuyên môn, tiền bạc và thời gian để tạo ra các giải pháp kinh doanh đúng đắn cho doanh nghiệp.

Private Cloud đã thay đổi vai trò của những quản trị IT. Nếu không có Private Cloud, họ sẽ phải vướng bận rất nhiều ứng dụng được triển khai, bao gồm máy chủ ảo hoặc máy chủ vật lí, cấu hình mạng, network balancing, storage và cài đặt ứng dụng như SQL Server… Với Private Cloud, chức năng của họ trở thành việc quản lí tài nguyên chia sẻ tập trung và quản lí các cấp độ dịch vụ của hạ tầng. Quản trị viên IT tạo ra và quản lí các thành phần và hệ thống có thể tái sử dụng để nâng cấp và cho phép doanh nghiệp tự triển khai dịch vụ của mình. Điều này có nghĩa là họ cung cấp dịch vụ một cách thông minh hơn với số lượng dịch vụ nhiều hơn và có ích hơn cho doanh nghiệp.

Public Cloud

Public Cloud dành cho nhiều người sử dụng được sở hữu bởi một công ty nào đó kinh doanh dịch vụ cho người dùng cuối. Public Cloud có nhiều dạng và tồn tại dưới nhiều hình thức như là Windows Azure, Microsoft Office 365 và Amazon Elastic Compute Cloud… Bạn cũng có thể tìm thấy các dịch vụ với quy mô nhỏ hơn với những dịch vụ khách hàng phù hợp với nhu cầu cá nhân.

Ưu điểm lớn nhất của Public Cloud chính là nó luôn được sẵn sàng để sử dụng nhanh chóng. Một ứng dụng kinh doanh mới nhất có thể được triển khai chỉ trong vòng vài phút. Doanh nghiệp không cần đầu tư vào hệ thống hạ tầng IT nội bộ để vận hành và đưa ra giải pháp nữa. Điều này có làm cho các chuyên gia IT trở nên thừa thải không?

Còn có nhiều vấn đề ảnh hưởng đến quyết định của người ra quyết định. Public Cloud đặt ở đâu? Công ty sở hữu nó đến từ quốc gia nào? Câu trả lời cho các câu hỏi trên có thể ảnh hưởng đến sự thống nhất vế quốc gia và những quy tắc của nền công nghiệp. Những sự hỗ trợ nào bạn có thể đạt được với công ty viễn thông? Bạn có nghĩ Public Cloud sẽ khác? Có thể Public Cloud có đội ngũ hỗ trợ tốt nhưng họ rất có thể sẽ đẩy bạn đi 5000 dặm để có được một cuộc đàm thoại qua email. Bạn có thể tùy biến bao nhiêu với đám mây công cộng này và nó kết hợp với dịch vụ nội bộ của doanh nghiệp bạn ra sao thì không biết được.

Hybrid Cloud

Vật thể không chỉ có 2 màu trắng đen. Cũng như những mặt mạnh của Private Cloud và điểm yếu của Public Cloud… Điểm yếu của cái này thì sẽ có điểm mạnh bù lại. Đa số các doanh nghiệp đều lựa chọn mô hình triển khai điện toán đám mây có lợi cho mình nhất.

Mô hình Hybrid Cloud sử dụng mô hình Private Cloud và mô hình Public Cloud cùng một lúc với các dịch vụ được triển khai mở rộng.

Nhớ lại về một công ty bán lẻ cần nhanh chóng mở rộng và cắt giảm dịch vụ điều khiển thông tin online theo nhu cầu thời vụ. Công ty này sử dụng Private Cloud để lưu trữ thông tin nhạy cảm của khách hàng. Private Cloud có thể hợp nhất với Public Cloud như là Windows Azure. Azure cung cấp các datacenter khổng lồ; nhà quản lí ứng dụng có thể mở rộng dung lượng đến cao nhất cho mùa kinh doanh và cắt giảm khi nhu cầu giảm. Công ty hưởng lợi từ hai thứ: quản lí được tính bảo mật và kết hợp được Private Cloud, rẻ-tiện-linh động và có khả năng mở rộng với Public Cloud, một dịch vụ đơn lẻ nhưng bao gồm cả hai loại đám mây.

Community Cloud

Community Cloud là đám mây được chia sẻ giữa các doanh nghiệp với nhau. Community Cloud này có thể sử dụng nhiều công nghệ, và nó thường được sử dụng bởi các doanh nghiệp liên doanh cùng thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học. Community Cloud hỗ trợ người dùng các tính năng của cả Private Cloud và Public Cloud. Chúng có thể cùng nhau hoạt động để đảm bảo tính bảo mật và thống nhất nhưng đồng thời cũng mang nhiều rủi ro trong quá trình chia sẻ. Chúng còn có thể truy cập vào các nguồn tính toán lớn hơn giúp mở rộng cấu trúc lũy tiến của mình.

Bởi vì tính mở tự nhiên, Community Cloud rất phức tạp. Một Community Cloud là một rủi ro có thể có khi chia sẻ. Tính bảo mật và thống nhất vừa là một thế mạnh vừa là một điểm yếu, mang sự thách thức về tính toán ở đây. Dù là với Private Cloud, yếu tố chính sách công ty là rất lớn. Chúng ta chỉ có thể hình dung ra vai trò của chính sách công ty là quan trọng thế nào khi tham gia vào Community Cloud được mua và sử dụng bởi nhiều công ty cùng một lúc.

 

Tổng kết

Công việc kinh doanh cần có một phương pháp mới để triển khai các dịch vụ IT. Các phép tính tuyền thống đã trở nên xa lạ và trở thành vật cản cho tính linh hoạt trong cạnh tranh.

Cloud computing cho phép doanh nghiệp tự triển khai hoặc đăng kí sử dụng dịch vụ khi cần. Một cloud bao gồm các đặc diểm như là tự phục vụ, truy cập với mạng lưới rộng, các cụm nguồn chia sẻ và đo lường mức độ sử dụng dịch vụ của khác hàng.

Có nhiều mô hình cloud khác nhau. Cấu trúc hạ tầng như IaaS cho phép người dùng triển khai máy chủ ảo tùy biến có sẵn trong kinh doanh đã được cấu hình lại. Nền tảng PaaS cho phép các nhà phát triển nhanh chóng ứng dụng mà không cần lo nghĩ về server hoặc hệ thống vận hành. Những phần mềm như SaaS cho phép người dùng đăng kí các ứng dụng online nhanh chóng.

Mỗi một mô hình cloud có thể được triển khai theo rất nhiều cách. Private Cloud thì độc quyền thuộc về nhu cầu của một tổ chức nào đó. Public Cloud thì được sở hữu và vận hành bởi một nhà phân phối dịch cho phép khách hàng đăng kí dịch vụ của họ. Hybrid Cloud là sự kết hợp giữa Private Cloud và Public Cloud và mang đặc điểm nổi trội của cả hai. Comunity cloud thì được chia sẻ và sử dụng bởi nhiều doanh nghiệp cùng chung mục đích hoạt động.

Hệ thống thông tin kinh doanh ngày một phát triển. Máy tính Mainframe ra đời và đã lỗi thời. Thay vào đó là các máy chủ đã được cài đặt và tính toán đã nhiều lần được cải tiến trong thập kỉ qua dưới nhiều dạng máy ảo. Sự tiêu dùng hóa IT đã thay đổi cách người sử dụng tiếp cận thông tin và các ứng dụng, và giờ đây tương lai của dịch vụ cung cấp IT chính là điện toán đám mây.

———————————————————————————————————————

Đây là bài viết trong báo cáo thực tập tốt nghiệp của của mình, mình dịch lại từ cuốn “Microsoft® Private Cloud Computing” của nhóm tác giả Aidan Finn, Hans Vredevoort, Patrick Lownds, Damian Flynn; nhà xuất bản Wiley Publishing, Inc; 2012. Hi vọng nó sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quan hơn về công nghệ điện toán đám mây trong series bài viết này.

Content Protection by DMCA.com

One comment on “TỔNG QUAN ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY (Phần 2)

  1. Pingback: TỔNG QUAN ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY (Phần 1) | AnVoNa

Leave a Reply